Trang 1 của 2 12 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 11

Chủ đề: Những Bài Viết Hay Về ẩm Thực
ID Topic: 1294

  1. #1
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    87
    Tăng Uy Tín
    4
    Có 5 điểm uy tín trong 4 bài

    Những Bài Viết Hay Về ẩm Thực

    Những Bài Viết Hay Về ẩm Thực
    » Tác giả: Tuệ Chương
    » Dịch giả:
    » Thể lọai: Biên khảo
    » Số lần xem: 106174



    1. Những Bài Viết Hay Về ẩm Thực



    (Trích: "Viết Về Huế" của Tuệ Chương Hoàng Long Hải )

    Nước ta có 3 miền, mỗi miền có những món ăn khác nhau: Người Bắc ăn phở, người Nam ăn hủ tiếu, người Trung ăn bún bò. Nhìn chung như vậy. Dĩ nhiên vài nơi có những đặc sản khác như Quảng Nam có mì Quảng, Bình Định có bánh tráng, kể sao hết được.

    Mì làm bằng bột mì, bún làm bằng bột gạo. Bột mì có nhiều ca-lo-ri hơn bột gạo nên người sinh sống ở xứ lạnh thường ăn mì, người xứ nóng ăn gạo. Ở xứ ta thì ngược lại, ngoài Bắc, ngoài Trung lạnh thì ăn phở, bún bò làm bằng bột gạo, miền Nam xứ nóng thì ăn hủ tiếu, mì làm bằng bột mì.

    Có thể các món ăn nầy gốc gác từ bên Tàu di cư sang ta: Hoặc theo gót chân phiêu bạt của người Lạc Việt thuở xa xưa mà xuống lưu vực sông Nhị hoặc theo người Tàu chạy trốn nhà Thanh như Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài, Mạc Cửu mà định cư ở đồng bằng sông Cửu Long. Nghe chữ hủ tiếu thì rõ. Hủ tiếu đâu phải là tiếng của người Nam, nó là tiếng Tàu rặc được phiên theo âm Việt.

    Phở là tiếng Tàu hay tiếng ta? Nhưng phở quả là món ăn gốc tự bên Tàu. Người Pháp không phiên âm tiếng phở. Toàn Quyền Đông Pháp Pasquier gọi nước mắm là nước mắm, không gọi nó là xì dầu hay dịch ra tiếng Pháp là một loại xốt lấy ra từ cá. Trong khi đó thì người Pháp gọi phở là Soupe de Chinoise. Sao lại là món xúp của Tàu. Họ từng thấy bên Tàu cũng có phở hay họ cũng bị ám thị rằng văn minh Việt Nam bắt nguồn từ trong văn minh Trung Hoa?

    Nói như thế thì bún bò không có nguồn gốc ngoại lai. Bún bò là rất Việt Nam, rất dân tộc. Bún là tiếng nôm, không gốc gác họ hàng gì với tiếng Tàu cả. Bò là con bò, thịt bò, cũng là tiếng nôm, không dính dáng gì tới ngưu là tiếng người Tàu gọi chung cả trâu lẫn bò. Miếng thịt bò ngênh ngang nằm trong tô bún thì gọi nó là thịt bò, không ai gọi nó là ngưu nhục.

    Nếu phở là Soupe de Chinoise thì tô phở chắc phải theo chân người Lạc Việt hay Tàu mà xuống đất Nam Việt, tức là vùng sông Nhị ngày nay. Nói thế cũng chưa chắc đúng. Biết đâu sứ Việt Nam khi qua Trung Hoa thấy tô phở ngon mà rước về, không có cờ quạt, lọng che như người xưa đón quan trạng vinh qui mà phải học thuộc lòng cách nấu rồi dấu lén trong trí, như kiểu ông Trạng Bùng dấu hột bắp nếp (*) trong búi tóc để đem về nước Việt làm giống. Người Tàu thường tự khoe là nước của Thiên triều, cao hơn các dân tộc chung quanh một bậc nhưng không mấy khi hào phóng mà chia cho chư hầu một hột giống bắp, giống đậu, hoặc cách chế biến một món ăn, một tô phở, mặc dù người Tàu bóc lột chư hầu không thiếu phần triệt để.

    Về bún bò thì đâu có riêng gì Huế mới có. Quảng Trị cũng có bún bò vậy, còn Quảng Bình thì sao? Qua khỏi đèo Hải Vân, bún bò Đà Nẵng trở thành một món ăn lưu lạc nơi xứ lạ quê người. Nó nằm lu thu một mình, lạc lỏng giữa đám Mì Quảng ồn ào như hải cảng Đà Nẵng nhưng bún bò lại chẳng cô đơn khi vào tới thủ phủ miền Nam.

    Gốc gác tô bún bò là những cộng bún nằm trong tô thịt bò có nước xáo thịt bò mà không có thịt heo. Có lẽ miền Trung có những ngọn đồi thoai thoải thuận tiện cho việc nuôi bò, nhưng khi tô bún bò định cư ở Cố Đô thì nó có phần thay da đổi thịt. Bên cạnh bún và thịt bò, người ta thêm vào đó một miếng giò heo. Đó là những cái chân của con heo đã cạo trắng, không còn chút lông, cái móng già đã được lấy đi. Miếng giò heo được chặt làm đôi, mỗi bên mỗi móng vì chân heo chỉ có hai móng hoặc là một khoanh tròn phần trên của chỗ móng heo, đầy lên những da và thịt. Tại sao lại giò heo mà không là thịt heo, như tên gọi của nó: Bún bò giò heo. (Không ai gọi Bún bò thịt heo). Lối ăn như thế là theo cách của người Tàu. Người Tàu cho rằng tinh chất của mỗi động vật tụ lại nơi chân của nó cho nên chân là phần bổ nhứt trong cơ thể con vật. Do đó, chúng ta thấy nhiều món ăn làm bằng chân động vật bổ và ngon đáo để. Đó là món chân vịt nổi tiếng của nhà hàng Lạc Quần Chợ Lớn nằm trên đại lộ Trần Hoàng Quân hay món chân vịt của nhà hàng Quốc Tế Cần Thơ. Một vài tiệm ăn nhỏ ở Hà Tiên cũng có món chân vịt nầy, giá rẻ vì tại các cù lao trong vịnh Thái Lan nằm gần Hà Tiên người ta nuôi nhiều vịt bằng thứ cá vụn ngư phủ đánh bắt được nhưng ít khi chở lên bán ở Saigon. Thi sĩ Nguyễn Hoàng Thu, tác giả tập thơ Nét Gầy và Mây, một người bạn tù cải tạo của tôi, kể cho nghe hồi anh làm lễ thành hôn ở Phước Long, nơi nầy người ta nuôi dê khá nhiều nhưng ít ai biết làm thịt dê. Một người Tàu biết nghề tình nguyện giúp anh bạn, chỉ đòi tiền công bằng bốn cái chân dê. Đã là thịt dê mà lại ăn bốn cái chân, không biết có ai kinh nghiệm để cho rằng nó hơn hay thua Viagra.

    Bò teo heo nở là kinh nghiệm các bà đầu bếp. Vì vậy, trước khi bị miếng giò heo bề thế tấn công, các miếng thịt bò đã vội teo lại khi đôi đủa của người đầu bếp lật qua lật lại chúng trong nồi thịt xáo. Không như thịt heo chặt từng miếng to, thịt bò được thái mỏng, không quá mỏng để khi nó teo lại người ta không thấy nó ở đâu cả, ướp gia vị tiêu hành nước mắm trước khi cho vào nồi xáo. Khi thịt bò vừa chín, người ta cho nó vào nồi nước bún bò.

    Để nước xáo được trong, không như nồi nước lèo phở, nấu lần thứ nhứt sôi, nổi bọt thì đổ nước đi nấu lại; người nấu bún bỏ vào nồi một trái thơm gọt vỏ hoặc vài muỗng me khô, một bó sả. Tuy nhiên, người ta thường nấu với thơm hơn me chua vì chất thơm làm cho giò heo mau mềm mà vẫn dòn.

    MUA HÀNG AN TOÀN
    • KHÔNG trả tiền trước khi nhận hàng.
    • Kiểm tra hàng cẩn thận,nhờ người có kiến thức về sản phẩm xem và test kỹ.
    • Nên mua hàng tại nhà hoặc cửa hàng của bên bán sản phẩm.
    • Bên bán hẹn giao dịch tại vỉa hè, cafe cóc, giữa đường...thì nên có người có kiến thức theo xem giúp trước khi mua.
    • Đường dây nóng: 0989 108 108.
    Tìm hiểu kỹ hơn về An toàn mua bán.

  2. Tiện ích hỗ trợ - Mua bán trên www.thamhue.com.vn
    UP TIN TỰ ĐỘNG STICK VIP (Update)
  3. #2
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    87
    Tăng Uy Tín
    4
    Có 5 điểm uy tín trong 4 bài
    Ngoài miếng giò heo, tô bún bò Huế cầu kỳ hơn với những miếng chuối bắp xắt lát (*), với những cọng rau quế trắng mà người ta cho rằng thơm hơn cọng rau quế đỏ. Chất chát của chuối bắp sẽ đẩy những mỡ, gia vị ra khỏi lưỡi, để cho cái lưỡi được sạch, miếng thịt heo ăn tiếp sau sẽ ngon hơn. Các thứ thịt trong tô bún bò giò heo không có mùi tanh, kể cả miếng giò heo to, nó có mùi béo ngậy, kích thích giác quan người ăn. Cho nên có người ăn bún bò, không như khi ăn phở, không cần ăn thêm rau quế. Rau chỉ làm cho miếng ăn thơm hơn.

    Người nấu bún bò không mua loại heo nuôi theo kiểu công nghiệp. Giò heo họ nấu phải là thứ heo cỏ, lông đen, nhỏ con do người ta nuôi theo lối thủ công. Giò heo không lớn quá, mỡ không nhiều quá, da không dày quá mà lại dòn, nước ngọt.

    Bún bò giò heo là món ăn của người Huế, nói riêng. Người Huế lại thích ăn ớt. Người Nam Kỳ ít thích ăn ớt, thấy tô bún ngon nhưng chỉ cứ ngồi nhìn, không dám đụng đũa. Trên mặt nồi bún là một lớp váng đỏ au do ớt bột tao với mỡ. Mặc dù người bán bún đã lấy cái vá chao trên mặt nồi cho váng ớt tan ra hai bên trước khi múc nước cho vào tô bún, bề mặt tô bún vẫn là một lớp ớt đỏ lóng lánh mỡ. Thế mà trên bàn, đôi khi còn có thêm một dĩa ớt sừng trâu hay ớt mọi (ớt hiểm) hay một chén tương ớt. Vừa ăn, thực khách vừa xuýt xoa vì cay, có khi toát mồ hôi, rớm nước mắt, trong cái gió bấc lạnh của vùng Châu Á Gió Mùa từ biển Đông thổi về mới đúng với cái thú ăn bún bò trong mùa lạnh.

    Khi chiến tranh lan tràn rộng hơn, nhiều người miền Nam ra phục vụ ngoài Trung, người ta bỗng thấy xuất hiện những tô bún bò có giá sống. Thế là không xong rồi. Khó có thể có sự hòa hợp hòa giải loạn xà ngầu giữa tô phở Hà Nội, tô bún bò giò heo Huế và tô hủ tiếu Nam bộ. Thật đấy, người khó tính chẳng bao giờ chịu một tô bún bò giá sống nửa Nam nửa Trung.

    Ăn bún bò Huế không ít khi tôi nhớ tới bún bò Quảng Trị, quê tôi. Bún bò Quảng Trị chơn chất hơn. Bún bò là bún bò, không có cái đuôi giò heo theo sau. Khi tôi mới lớn, ăn bún bò, thấy nồi nước xáo của mấy chị, mấy mự (mợ) mấy dì bà con xa gần bên ngoại tôi là nồi đất, chưa hiện đại như sau nầy để có nồi nhôm. Bún làm bằng gạo trắng, nhiều khi gạo đỏ, và cọng bún lại nhỏ hơn cọng bún của tô bún bò Huế. Thuở ấy, cả thị xã chỉ có mấy tiệm ăn, người ta bán phở: phở nước, phở xào chớ không bán bún bò bao giờ. Muốn ăn bún bò, phải ăn bún gánh của những người đi bán dạo. Sau nầy, khi tôi xa xứ rồi mới nghe nói tới những quán bún bò giò heo bên bờ sông Thạch Hãn, gần Ty Thông Tin, hay bún bò giò heo trên đường Phan Thanh Giản như trong hồi ký của cô giáo Bùi Ngọc Lan. Tôi là dân Quảng Trị chính cống mà không được cái may mắn như cô giáo trẻ từ Huế ra dạy ở trường Trung Học Nguyễn Hoàng.

    Với Huế, người ta có thể nhắc tới Vĩ Dạ qua hình ảnh thuyền chở trăng, hoa bắp lay, hay lá trúc che ngang mặt chữ điền như trong thơ Hàn Mặc Tử. Quả thật tôi không về Vĩ Dạ để xem trăng ở vườn nhà ai mà lại chui vào chợ Vĩ Dạ ăn bún bò viên. Bún bò viên không có giò heo, mà chỉ có những viên thịt bò to gần bằng ngón chân cái, ăn một lần, nhớ một đời. Nó không phải là thứ thịt bò xay như ở Saigon hay bên xứ Mỹ nầy. Người ta xắt nhỏ miếng thịt bò rồi bỏ vào cối đá quết cho thật nhuyễn như làm nem chả. Quết xong, miếng thịt dính chặt vào nhau như miếng cao su non. Thịt xay thường rã rời, không dính chặt với nhau như miếng thịt quết. Sau đó, người bán nêm gia vị sao cho vừa miệng người ăn. Làm việc nầy, người chủ không cần dấu nghề như các tiệm nem chả của người Bắc ở Saigon, nhưng nêm sao cho được ngon là điều rất khó cho ai muốn học nghề. Tôi biết ăn bún bò viên Vĩ Dạ chỉ là một sự tình cờ. Thưởng thức món ngon ấy chưa được bao lâu thì xảy ra biến cố tết Mậu Thân, tôi đành nhập ngủ, để lại phía sau những tô bún bò viên từ bấy đến nay chưa từng được trời cho hưởng lại cái lộc ăn ấy một lần nữa.


    Tôi vốn dĩ có tính bướng. Đi ăn giỗ nhà bà con, tôi không ưa những món chay giả mặn. Ăn chay mà cũng có món nem chả sườn, giò và cả bún bò giò heo. Món ăn chay không ngon hay tôi có định kiến với những món ăn giả mặn đó. Mấy năm làm giáo tại gia nhà một ông chú họ, mỗi rằm và mồng một cả nhà ăn chay, nếu nhằm ngày nghỉ không bận đi học, thế nào tôi cũng ra quán bún bò Mai Lợi phía ngoài cửa Đông Ba, bên cạnh vườn hoa, cách nhà tôi không xa để ăn một tô bún bò mà tôi thường gọi đùa là trả thù đời. Đời bắt tôi tu nhưng chẳng bao giờ tôi chịu tu. Với bao nhiêu tô bún bò trong đời, khi xuống địa ngục chắc tôi sẽ ở tầng chót và kiếp sau hóa thanh Trư Bát Giới. Biết đâu đó lại là điều vui!

    Bún bò giò heo Huế cũng mang tính giai cấp như trong cộng đồng nó hiện hữu. Cà-phê Lạc Sơn là nơi lui tới của những người có tiền có bạc, công chức, sĩ quan thì bún bò ở đây tô vừa to, cục giò cũng vừa to và làm nhẹ túi tiền của khách thưởng thức. Muốn ăn tô bún ngon thật sự thì lên quán cô Ba đầu dốc Nam Giao hay bún bò Mụ Rớt ở Ngự viên. Bún bò Ngự Viên mới xuất hiện khoảng đầu thập niên 1960, khi Ngự Viên không còn nữa, đã biến thành một xóm lao động nhà cửa chen chúc. Nghĩ tội nghiệp cho các công chúa, cung phi ngày xưa, hồi ấy làm gì có bún bò Ngự Viên cho vua ngự hay các nàng dùng để thời.


  4. #3
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    87
    Tăng Uy Tín
    4
    Có 5 điểm uy tín trong 4 bài
    Cảnh tang thương ấy ngày xưa công chúa cung phi gánh chịu đã đành, người đời nay đâu tránh khỏi. Tết Mậu Thân ông Rớt bị Việt Cộng bắn ngay trước cửa nhà ông, vì tội ông ta bán bún bò ngon cho tên ngụy ăn vào cho sảng khoái để mạnh tay đánh phá cách mạng như họ thường lý luận một cách triệt để hay ông có tham gia đảng phái Quốc gia mà họ gọi là phản cách mạng. Tới tiệm mụ Rớt ăn tô bún, chưa chắc người ta quên đi hình ảnh ông Rớt bị bắn chết nằm chèo queo trên mặt đường, mất đi cái vui thuở binh đao chưa về tận xóm Ngự Viên nầy.

    Vốn có cuộc sống kín cổng cao tường, các bà các cô gái Huế không mấy khi ra ngồi tiệm ăn bún bò. Cắn miếng thịt heo to, ớt đỏ dính quanh mồm, vừa ăn vừa hít hà hay xì xụp giữa chỗ đông người là việc không mấy khi họ chịu làm. Thế nhưng không phải họ không được ăn những tô bún ngon. Họ ở nhà ăn bún gánh, là bún của những người gánh bán dạo từng nhà. Đừng tưởng rằng những tô bún gánh nầy ít ngon. Thật ra, có gánh còn ngon hơn cả bún bò mụ Rớt hay cô Ba. Người sành ăn không ăn bún gánh sớm. Họ chờ hơi trưa, khi bụng đói hơn chút nữa, khi nồi nước xáo rặc bớt nước, cô lại. Đó là lúc cao điểm của một tô bún bò ngon.

    Mỗi người bán gánh có một khu vực riêng, coi như giang sơn của họ, một thứ luật bất thành văn, người ở giang sơn bên cạnh ít khi xâm lăng vào. Do đó, trong những người bán bún gánh với nhau, không có chuyện cải cọ tranh giành khách ăn. Cộng đồng bún bò gánh đó có trật tự kỷ cương hơn bất cứ một cộng đồng người Việt nào.

    Buổi sáng, khi trời còn mờ mờ, người ta thấy các chị, các dì gánh những gánh bún bò nối đuôi nhau từ phía bên kia cầu An Cựu, cống Phát Lát như một toán lính hành quân đi dọc theo một trục lộ. Lò than còn cháy đỏ xua bớt chút lạnh còn vướng vất của buổi sớm mai, có khi bếp lửa còn khói tuôn ra, loảng dần trong không khí. Đạo quân bún gánh đó qua khỏi cầu An Cựu tỏa ra nhiều nhánh, rẽ tay trái lên An Lăng, Phú Cam, Bến Ngự, Nam Giao, Ga Huế, hay rẽ phải xuống Vĩ Dạ, chợ Cống. Đông nhứt vẫn là những gánh bún vượt qua cầu Trường Tiền xuống phố Đông Ba, Ô Hồ, qua Gia Hội hay lên Thượng Tứ, tiến chiếm các mục tiêu trong nội thành, vào tận Lương Y, Tây Lộc. Nếu tò mò hỏi, chúng ta biết hầu hết những người bán bún gánh đều ở xóm An Cưụ. Đó là nghề truyền thống của một cái xóm nhỏ, nổi tiếng như loại nem An Cựu nếu so với nem Thủ Đức thì Thủ Đức thua xa.

    Vào Saigon, nhớ Huế, đố ai khỏi nhớ tô bún bò Huế. Người ta có thể ghé quán Hạnh Lợi trên đường Hiền Vương, gần ngã tư Pasteur để làm một chầu cho đã nhớ. Hạnh Lợi có nhiều món ăn Huế: Nem chả, bánh bèo, bánh nậm, bánh bột lọc bọc tôm thịt nhưng tôi chỉ thích có bún bò. Nó là Huế bậc nhứt trong những món ăn Huế. Chả ở đây vẫn ngon hơn chả Quốc Hương trên đuờng Trần Hưng Đạo. Chả Huế làm bằng thịt quết, không thêm bột nên miếng chả vị ngọt hơn. Người Saigon cái gì cũng vội: Ăn vội, đi vội, nói vội theo cuộc sống văn minh. Họ không có thì giờ ngồi nhâm nhi miếng chả để phân biệt cái nào là thịt, cái nào là bột lạt lẽo trong miếng chả đang ăn.

    Nếu chỉ muốn ăn có mỗi một món bún bò, người ta đến Bún Bò Quốc Việt trên đường Lê Văn Duyệt, chỗ gần cuối đường. Quán nầy trông có vẽ bình dân, ghế bàn xộc xệch, dành cho lính tráng gốc Huế hơn là khách văn nhân; nhưng tô bún bò Quốc Việt không kém tô bún bò Huế chính cống. Năm 1970, tôi có cô bạn nữ quân nhân người Nam, tên là Nguyễn T. Thanh Nh. làm việc cùng cơ quan, một người hễ khi tôi nói gì về Huế thì vểnh tai, tròn xoe hai mắt như cố ghi vào trí vào lòng những gì tôi nói. Một lần tôi đãi cô ăn bún bò ở đây. Nghe ăn bún bò, cô ta thích lắm, muốn ăn cho biết. Nhưng khi tô bún được bưng ra thì cô ta chỉ ngồi nhìn, không dám cầm đũa. Hỏi, cô ta trả lời: Ớt thế làm sao ăn, sợ quá!

    Sau 1972, vì sợ chiến tranh, người Huế khăn gói vào sống Saigon nhiều hơn nên trong hành trình Nam Tiến của họ có mang theo hình ảnh tô bún bò Huế. Do đó, sau 1972, Saigon bỗng rộ lên nhiều tiệm bún bò. Saigon đã bị Huế xâm lăng cũng như mấy trăm năm trước, tô hủ tiếu gốc Tàu chế ngự thị trường ăn uống Saigon.

    Bún bò cũng không sống nỗi với Cộng Sản, chúng cũng vượt biên và nhờ lòng ưu ái của nền đa văn hoá Mỹ, tô bún bò giò heo Huế nay đã định cư ở Cali và vài nơi khác, chưa biết bao giờ nhập quốc tịch Mỹ.

    Tôi ước ao tô bún bò sẽ không bị Mỹ hóa: thêm một miếng Hamberger chẳng hạn. Dù sao, tô bún bò khi chưa bị Mỹ hóa thì vẫn còn bản sắc dân tộc Việt, bưng tô bún bò, nuốt những sợi bún phải chăng là nuốt vào lòng sợi nhớ sợi thương.

    (*) Dẻo như cơm nếp. Có khi người ta gọi là bắp trắng theo màu sắc.

    (*) Bắp chuối xắt thành từng lát thật mỏng. Món ăn rất thông dụng của người Việt ăn sống hoặc nấu canh chua như người Nam.


    Hương gây mùi nhớ...

    Ngô Kim-Khôi (Paris)

    Ừ nhỉ, tự bảo là sẽ không đặt bút, vì đã có nhiều người viết đến, mà lại viết thật hay, thật thấm thía, từ cái ông Thạch-Lam qua ông Nguyễn Tuân đến ông Vũ Bằng... Nhưng mà không viết lại không chịu được, nhất là những ngày cuối năm đi trong nhạc điệu mùa Đông buồn se sắt, với không-khí tha-hương lạnh lùng sương rơi heo may buồn ngơ ngác bóng chim bay mây tím giăng sầu đó đây , và còn tại cái hệ-thống sưởi trong nhà bỗng dưng dở chứng không chịu chạy, thì cái lạnh lại như cắt vào lòng, như muốn chui vào tận trong xương trong tủy, lạnh từ trong đầu trong óc mà lạnh ra, cứ muốn trùm tấm chăn bông mà ấp ủ... Thế, chao ôi, thèm ơi là thèm hương vị rừng rực nồng nàn, muôn thuở ấm áp của một bát phở.

    Đấy, thì đã bảo, "người ta" viết về phở đã hay lắm rồi, đâu đến phiên mình !

    Này nhé, giá mà cứ đưa vào tay bác Tô Vũ nhà ta, để bác ta ngoáy lên đôi dòng "cà kê", thì cũng đã nên khuôn vàng thước ngọc. Còn mình, cũng vì chỉ thèm ăn phở, thôi thì xin lạm-bàn vài ba hàng, cho đỡ... cơn thèm.

    Vẽ chuyện ! Có thèm thì đi ra quận 13, hay đi Belleville, mà ăn một bát cho xong, bày đặt làm chi vẽ vời viết lách !

    Ấy vậy, thưa anh, nếu có đi ra quận 13, hay đi Belleville, cũng không thể nào nguôi ngoai được, cũng như khi ta ngồi buồn, mở nhạc nghe, vô-tình lại trúng vào bài "Buồn tàn thu" của nhạc sĩ Văn Cao, nhạc dẫn dìu dặt, rồi giọng Thái-Thanh trỗi lên,...ai lướt đi ngoài sương gió không dừng chân đến tôi bẽ bàng..., ôi, cái chữ "lướt" ấy, qua tiếng hát vượt thời-gian Thái-Thanh, bỗng trở thành bất-diệt. Bài nhạc đã hát xong rồi, con tim vẫn còn nao nao, thì anh ơi, cũng như mùi hương phở ngạt ngào một lần đâu đây, thấm vào da vào thịt, vào lục phủ ngũ tạng, nhớ muôn đời không quên...

    Vâng, thưa ông thưa bà, thưa anh thưa chị, không thể nào nguôi ngoai...

    Lại nhớ hôm nọ, năm ngoái hay năm kia nhỉ, ghé sang nhà ông bà Tào văn Trạch, được bác Tuyết-Anh đãi ăn một bữa phở bò, trời ơi, bỏ... bùa bỏ ngãi gì trong ấy mà sao lại ngon không... chịu được, ngon đến nỗi đã ăn hai bát, bụng không còn chỗ chứa, nhưng cứ muốn ăn thêm, sợ... phí của giời ! Ra về, lại ỉ ôi với hai bác, còn tí nước dùng trong nồi trên bếp, bác cho cháu, bác nhé !

    Thì cũng ngần ấy thứ thôi, có phải nêm thêm... vàng thêm ngọc gì vào trong ấy đâu, thế mà bát phở của bác Tuyết-Anh phải như sơn-hào hải-vị, có khi còn hơn thế nữa, không chừng.

    Dạ thưa quý-vị, cái chữ "phở" nhỏ tí tị tì ti ấy, xem ra cũng còn nhiều bàn cãi.

    Trong "An-nam tự-vị latin" của Pigneaux de Béhaine (Bá-Đa-Lộc) viết vào khoảng giữa thế-kỷ thứ 18 không có chữ "phở". Trong "Đại-Nam quấc-âm tự-vị" của Huỳnh-Tịnh Paulus Của, nhà xuất-bản Rey, Curiol & Cie, năm 1896, có chữ "phở" nhưng không... ăn nhằm gì đến phở mà chúng ta đang nói (Phở : Nổi tiếng tăm. Mầng phở lỡ : Mầng lắm, tome II, trang 200). Cũng như quyển "Việt-Pháp tự-điển" của J.F.M. Génibrel, nhà xuất-bản De la Mission à Tân-định, tái-bản lần thứ hai năm 1898, có chữ "phở" đồng nghĩa với Paulus Của (phở lỡ : Bruyamment, trang 614). Trong "Việt-Nam tự-điển" của Hội Khai-trí Tiến-đức , xuất-bản năm 1931, tra thấy có chữ "phở" như mình muốn nói, mừng ơi là mừng ("mầng phở lỡ"), và được giải nghĩa như sau : "Phở do chữ phấn mà ra. Món đó ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò : phở xào, phở tái" .

    Đọc "Sài-gòn tạp pín lù" của cụ Vương Hồng Sển :


  5. #4
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    87
    Tăng Uy Tín
    4
    Có 5 điểm uy tín trong 4 bài
    ..."hủ tíu", theo ông bạn quá cố Lê Ngọc Trụ là "hủ mộc phấn thổ", người Quảng Đông cũng gọi là "phảnh", và danh từ này, khi lọt vào tay đồng bào Bắc Việt, "ngầu dục phảnh" (ngưu nhục phấn), tao không thèm gọi như chúng mi nữa, và biến ra "ngưu nhục phở", kêu tắt "phở" lại càng thêm gọn. Từ cái mùi "Ba Tàu" hủ tíu, ba xu xưa một tô nhỏ, sáu xu một tô trộng trộng, vừa có ít sợi mì vàng, ít sợi bún "phảnh", bước một bước qua ranh Bắc Việt "phở" đã mất mùi "chệc", thơm ngon béo bổ hơn "hủ tíu Tàu" nhiều, phở nấu với nước cốt thịt bò, vi ta min giàu hơn, nhứt là cách nay mấy tháng, khi phở Huỳnh Phú Nhuận còn mở cửa, trời sáng lạnh lạnh, tô phở bay hơi nghi ngút, tay cầm đũa, vít miếng thịt mềm nhừ, hay miếng "mỡ gầu" vừa giòn vừa dai, gion gion giòn giòn, chấm một chút tương cay, mắt liếc tay ngọc bưng tô cho bàn bên cạnh, tưởng đâu chừng mình đã theo Lưu Nguyễn lạc lối thiên thai, với mười bảy đồng hay hai chục đồng mà nếm tô phở Huỳnh buổi ấy, hơn Lưu Nguyễn bội phần vì hai chàng lạc lối cảnh ăn đào thiếu bổ !

    Cũng cụ Vương Hồng Sển, "Tự-vị tiếng nói miền Nam" , đọc thấy "Phở : phảnh, 'phấn' đọc giọng Tàu. Bột gạo mịn như phấn nấu trong nước cốt gà, heo v.v. Phở là món ăn quốc túy, do đồng bào Bắc chế biến, được dân trong Nam hoan nghinh nhứt và đánh đổ thay thế tô hủ tíu Tàu : phở tái, phở áp chảo,..."


    Ấy mà cũng có người đặt giả-thiết rằng phở có... bố mẹ là người Tây, do chữ "Pot-au-feu" mà ra, vì "Pot-au-feu" có mùi vị "hơi hơi" giống phở của chúng ta, và vì họ nhấn mạnh chữ "feu" riết nên thành chữ "phở" ! Hỡi ôi, có cha mẹ Tây là thế, tại sao mấy năm trước đây, đâu có xa xôi gì lắm đâu, cũng chỉ chừng mươi năm trở lại mà thôi, người Tây gọi phở là soupe chinoise, phải chăng cha mẹ không biết mặt con cái, cứ thấy "da vàng mũi tẹt" thì sắp loại phở cùng là anh chị em với hủ-tíu hay vằn-thắn ? Chán ơi là chán ! Chắc có lẽ bị mắng quá, bị sửa lưng nhiều quá, ông Tây bà Đầm ngày nay... khôn ra, không còn dịch bừa bãi phở là soupe chinoise nữa, mà dạ thưa quí-vị, là soupe tonkinoise , nếu dịch cho có căn có kệ, có phân-định biên-giới hẳn hoi, còn không, gọi chung chung là soupe vietnamienne, đấy ạ. Nhưng dịch thế nào thì dịch, cũng không thể làm sao lột tả được chính-xác hương-vị phở của chúng ta, xin đề-nghị gọi là "le phở", như "le áo-dài" hoặc "le nước-mắm"..., tiện hơn không ?

    Trở lại chữ "ngưu nhục phấn" (níu ròu fen), ? ? ?, trong "tự-điển Hán-Việt" của Đào Duy-Anh, nhà xuất-bản Minh-Tân, năm 1931, "ngưu nhục" chính là thịt bò, nhưng nhấn mạnh một điều rằng chữ "ngưu" không nên lầm là trâu, vì Trâu là "thủy ngưu", ? ? . Riêng chữ "phấn" (?) : Vật nghiền ra rất nhỏ (quyển hạ, trang 108), chứ Đào tiên-sinh không nói gì đến "phở" cả.

    Trong "tự-điển Hán-Việt" của nhóm Hầu Hàn Giang, Mạch Vĩ Lương... , trang 189, tra chữ "phấn" (fen), ? thì đọc được : Bún, bánh phở, miến.

    Trong "Dictionnaire français-chinois" (tự-điển Pháp-Hoa) của Thượng-hải Dịch-văn Xuất-bản-xã, 1979, trang 1337, tra chữ "Vermicelle", cũng ra chữ ?.

    Như vậy, chữ "Phở" từ chữ "Phấn" mà ra có thể tin cậy được.

    Chúng tôi có ý muốn biết hoàn-cảnh ra đời của món phở, nhưng không tìm được tài-liệu nào. Trong quyển gia-chánh "Nữ-công thắng-lãm" của Hải-Thượng Lãn Ông (Lê Hữu-Trác, 1720-1791), viết vào năm 1760, không có nói đến phở.

    Trong hành-trình đến Việt-nam từ 11/01/1884 đến 19/04/1886 của Bác-sĩ Hocquard, tường-thuật lại rất cặn kẽ cách ăn nếp ở của người dân ta trong"Une campagne au Tonkin" , nhắc đến cả mắm tôm, nhưng chẳng có một lời nói đến món ăn có tên là phở cả.

    Theo thứ-tự thời-gian xuất-hiện chữ "phở" trong các tự-điển nói ở trên, chúng ta có thể đặt giả-thiết rằng món phở chỉ có thể sinh ra đời khoảng đầu thế-kỷ XX, tức là lúc có người ăn quà ngoài đường phố, tiếp theo đó, bắt đầu thịnh-hành vào thập-niên 20, và theo nhà văn Vũ-Bằng, "đến năm 1952, công việc chế biến món phở đã đến chỗ tuyệt đỉnh, nghĩa là không thể thêm hoặc bớt một món gì nữa" . Dân Hà-thành thuở đó đã "bầu" phở Tráng ở phố hàng Than là "Vua phở".


    Năm nọ, ăn bát phở tại nhà bác Tuyết-Anh ngon quá đỗi, nay xin bác viết cho một bài "Khéo tay làm lấy", chỉ cách nấu phở, vì dù sao phở cũng là một món ăn truyền-thống của dân-tộc ta. Thử hỏi có người Việt-nam nào chưa từng ăn phở không ? Nhà văn Vũ Bằng quả-quyết rằng không. Có nghĩa hể là người Việt-nam, từ Bắc chí Nam, thế nào cũng có lần ăn phở.

    Nhưng xin bác đừng quên các bí-quyết để có một nồi phở ngon, bác nhé, vì tiệm phở nào cũng dấu rất kỹ ngón nghề. Ai cũng cho rằng cái "bí-mật" của mình là hơn thiên-hạ, không thể nào... dại dột tiết lộ ra ngoài cho mọi người nghe. Đồng-bào ơi, tôi dơ tay lên xin phát-biểu ý-kiến, rằng nếu chúng ta biết trao đổi kinh-nghiệm nấu phở với nhau, tìm ra một phương-pháp hoàn-thiện thì chúng tôi chắc chắn rằng món Phở của người Việt-nam ta sẽ được bầu là món ăn ngon nhất... thế-giới.

    Mà không hiểu các tiệm phở dấu nghề làm gì nhỉ, vì ít khi người ta nấu phở ở nhà. Kéo nhau ra tiệm, xì xụp ăn bát phở, cảm-thấy ngon hơn nhiều, làm như phở ngon cần có không-khí của tiệm ăn. Nấu phở ở nhà phải có chục người ăn, mới bõ, dăm ba người, nấu một nồi phở to tướng, dọn ra bàn, lơ láo nhìn nhau, mất ngon.


  6. #5
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    87
    Tăng Uy Tín
    4
    Có 5 điểm uy tín trong 4 bài
    Chúng ta đều biết điều quan-trọng nhất làm cho phở ngon là nước dùng (nước lèo) ngon ngọt độc-đáo, kế tiếp mới đến bánh phở trắng ngà, dẻo dai.

    Phần thịt trong nước dùng, ngoài thịt bò, xương bò, xương heo, người ta còn cho đuôi bò. Điều này, cuối chợ, khi sắp đóng cửa hàng, phần "xí-quách" ấy là một món ăn còn có thể nói là hơn lương-trân, dành riêng cho các ông thích nhậu. Hỡi ôi, gặm cục xương đã mềm nhừ hay ăn cái đuôi bò thấm đượm, chiêu một ngụm rượu cay nồng, giữa cái lạnh lùng giá buốt của mùa Đông, tưởng chừng như thiên-đàng cũng không bằng !!!

    Có người cầu-kỳ, cho thêm tôm khô hay đầu mực, bảo rằng như thế thì nước đậm hơn. Chúng tôi không dám có ý-kiến, ấy là tùy bàn tay người nội-trợ, phải không... cô Hai ? Điều cần phải nhớ là không được bỏ đường, nhưng chắc rằng phải có một chút bột ngọt (mì chính), chỉ một chút thôi, như một thoáng nghi-ngờ (un soupçon), chứ cho nhiều bột ngọt thì ăn lợm giọng mà còn hại cho sức khỏe.

    Muốn cho nước trong, khi nồi nước bắt đầu sôi thì phải hớt bọt, có nhiều chỗ trả tiền cho một đứa trẻ, bắt nó đứng cạnh nồi để hớt bọt, hớt cho tới bao giờ kiệt hết bọt thì thôi. Này, tôi bảo cho một bí-quyết, gia-truyền đấy nhé, nhưng phải hứa với tôi là không được nói lại với ai, kê lỗ tai vào đây nào, để tôi nói nho nhỏ cho mà nghe, kẻo "con mẹ" hàng xóm nó... rình, xuỵt xuỵt...., muốn cho nước dùng trong hơn, sau khi hớt bọt rồi, cho vào nồi củ cà-rốt và củ cải trắng, vừa thêm ngọt nước nữa đấy, nhưng sau đó thì không được ăn mà phải vứt các củ ấy đi, nhớ nhé (!?)


    Đến đây thì phải nói tới phần chính để làm cho nước phở trở thành một... bài thơ tao-nhã, danh bất hư truyền, đó là gia-vị. Trong nồi nước dùng, ngoài mắm muối ra, phải nướng hành củ và nướng gừng, cho vào nồi cùng với đinh-hương, quế và hồi-hương. Có nơi còn cho thảo-quả.

    Đinh-hương hay đinh-tử-hương , tên khoa-học Syzygium aromaticum, thuộc họ Sim (Myrtaceae). Vì có hình-dáng như cây đinh, lại tỏa mùi thơm nên có tên là đinh-hương (? ?). Khi chúng ta ngửi thấy mùi hương này, sẽ liên-tưởng ngay đến phòng... Nha-khoa, vì đinh-hương có công-dụng phổ-biến là dùng để cất lấy tinh-dầu, có tính sát-trùng mạnh nên sử-dụng để làm thuốc tê và diệt tủy răng. Những người hay bị đau răng, thường gói theo mình một ít đinh-hương, khi răng... dở chứng, bỏ một nụ vào chỗ đau, ngậm một chút thì cơn đau sẽ qua đi. Trong những khi bị nạn dịch, người ta có thể nhai đinh-hương để phòng bị truyền-nhiễm. Đinh-hương là vị thuốc có tính ôn, vị cay, tác-dụng vào 4 kinh (phế, tỳ, vị, thận), dùng chữa các chứng đau bụng, tiêu chảy, nôn mửa... Ngoài việc làm gia-vị cho nước phở, đinh-hương có công-dụng phổ-biến là để chế bột cà-ry.

    Quế, còn gọi là ngọc-quế (? ?), có rất nhiều loại mà thông-dụng chia ra ba loại là Quế Thanh-Hóa, Quế quan (quế Xri-Lanca) và Quế Trung-quốc, tên khoa-học gọi chung là Cinnamomum, thuộc họ Long-não (Lauraceae). Nhớ khi chúng tôi còn nhỏ, khoảng 4-5 tuổi, sau khi ăn quít thường để dành vỏ phơi khô, được nhiều nhiều thì chạy ra tiệm thuốc Bắc đổi lấy vài miếng quế đem về... ngậm chơi. Trong "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia-Thiều, ngay câu đầu tiên ta đã đọc được "trải vách quế gió vàng hiu hắt", có nhiều người cho rằng vách quế do chữ quế-dịch mà ra, nghĩa là vách tường có hồ trộn mạt-cưa cây quế, nơi ở của cung-tần phi-nữ, quế làm cho ấm, khỏi cần... sưởi. Theo Huỳnh Khắc-Dụng, phải là phách quế, có nghĩa là trăng sáng, thì đúng hơn . Quế có vị cay, ngọt, tính đại-nhiệt, tác-dụng vào 2 kinh (can, thận), bổ mệnh môn tướng hỏa, trị cố lãnh trầm hàn, chữa chân tay co quắp, chồn chân mỏi gối, bụng quặn đau, kinh-nguyệt bế, ung thư... Ngoài ra, quế còn dùng để cất rượu hay trong công-nghệ kẹo bánh.

    Hồi-hương hay bác-giác hồi-hương, đại-hồi-hương (? ? ?), tên khoa-học Illicium, thuộc họ Hồi (Illiciaceae). Hồi là trở về, hương là thơm, thịt thiu hay tương thối cho ít đại-hồi vào nấu thì mùi thơm lại trở về, vì vậy nên đặt tên ấy. Thật sự, phải gọi là Hồi-quả chứ không phải Hồi-hoa, vì quả có ngôi sao 6-8 cánh đẹp như một bông hoa nên ta vẫn gọi lầm. Nhiều quả có đến 12-13 cánh. Hỡi các anh thích... nhậu, ngửi mùi hồi thì anh liên-tưởng ngay đến rượu... Pastis hay Ricard, là rượu khai-vị, cất từ tinh-dầu cây hồi, nồng-độ rượu thường là 45ổ, có màu trắng trong, pha với nước sẽ chuyển sang màu vàng đục, một phần rượu năm phần nước, uống lạnh với đá, rất được ưa chuộng tại các tỉnh miền Nam nước Pháp. Vào quán, khách hàng thường gọi một cách thân thiết "ông chủ, làm ơn cho một cái... vàng" (un jaune, s'il vous plait), làm người Á-đông da vàng mình nghe cũng... chột dạ. Đại-hồi có vị cay, tính ôn, tác-dụng vào 4 kinh (can, thận, tỳ, vị), dùng chữa các chứng đau bụng, khó tiêu, nôn mửa, đau nhức, tê thấp... Ngoài việc làm gia-vị cho nước phở, hồi còn dùng làm thơm thuốc đánh răng, kẹo bánh, hay bỏ vào nồi ra-gu bò thì cũng... ác liệt lắm.

    Thảo-quả (? ?), còn gọi là quả tò ho, tên khoa-học Amomum aromaticum, thuộc họ Gừng (Zingiberaceae). Thảo-quả chủ-yếu dùng làm gia-vị, khi dùng, bóc quả đã xấy khô lấy hạt ở trong, người miền Bắc hay cho vào chè lam hay chè kho. Thảo-quả là vị thuốc có tính ôn, vị cay, chát, tác-dụng vào 2 kinh (tỳ, vị), có năng-lực khử đờm, chữa sốt rét, đau bụng...

    Bốn gia-vị kể ở trên đây, không ôn thì nhiệt, bởi thế nhiều người cho rằng ăn phở thì trong người cứ bị nóng, nổi mụn (?), ấy là còn chưa nói đến gừng.

    Gừng còn gọi là khương (?), có tên khoa-học Zingiber officinale, thuộc họ Gừng (Zingiberaceae). Ngày Tết, chúng ta thường hay ăn mứt gừng, nhưng người Anh và Mỹ thì dùng gừng làm nguyên-liệu để chế... rượu bia. Củ gừng (sinh-khương) có vị cay, tính hơi ôn, vào 3 kinh (phế, tỳ, vị), trong nhân-dân dùng chữa tiêu đờm, giải độc, cảm-mạo, phong-hàn, khó tiêu, ho... Nhiều người còn cho rằng gừng có tính... cường dương (?).

    Úi giời, thế thì phở quả nhiên "nhiệt" thật, toàn là thứ để làm thành rượu thì ăn phở đâm ra... nghiện cũng đúng thôi (?). Đã vậy, khi ăn, nước dùng phải thật nóng, bỏng lưỡi bỏng miệng, phải cho thêm tiêu vào, nóng đến nước mắt nước mũi dàn dụa ra thì mới ngon. Phải như cụ Nguyễn Tuân, vục mặt xông vào trong làn khói nghi ngút của bát phở nóng có nhiều hành hoa..., xì xà xì xụp, phải ăn cho hết bát phở, húp hết cả nước dùng. Có nhiều người làm ra vẻ thanh-cảnh, chỉ ăn thịt và bánh phở, uốn éo ỏng eo bỏ bê nước dùng, ăn như thế thì nào đâu biết ăn phở là gì. Thật là phí của giời. Nhiều người còn tệ hơn nữa, đập quả trứng vào, vừa làm đục nước dùng trong tô phở, vừa có cái mùi tanh tanh của trứng, át cả hương-vị thanh-tao của món ăn quốc-hồn quốc-túy, ôi, bày chi cảnh hoa hòe hoa sói, ăn vào... phí cả mồm ! Ăn thế, với phở gà thì mồm đã phí rồi, lại còn ăn với phở bò nữa, trời ạ !!!


    Khi... Nam-tiến, phở đã thay đổi đôi chút trong cách ăn. Người trong Nam cho thêm giá sống, ngò (rau mùi)... Sang bên đất Tây này, chúng tôi còn thấy nhiều người bỏ cả rau bạc-hà (menthe). Phở chính hiệu... "con nai vàng ngơ ngác" thì không có các thứ ấy, chỉ là chế-biến thêm vào sau này mà thôi, và theo ý riêng của chúng tôi, những thứ ấy có hay không, không ảnh-hưởng đến hương-vị của phở, cũng không làm phở ngon hơn. Nhưng ăn phở mà thiếu vị này thì không còn là phở, đó là ngò gai. Có tên khoa-học là Eryngium foetidum, ngò gai xuất-xứ từ Trung-Mỹ, nhưng ta lại gọi là rau mùi tàu, thuộc họ Hoa tán (Apiaceae). Ngò gai chữa được cảm mạo, sốt, khó tiêu... Dân ta còn dùng ngò gai nấu với bồ-kết để gội đầu. Ngoài ra, ăn phở còn phải có rau húng-quế (Ocimum basilicum), trong Nam gọi là rau é, và dĩ nhiên phải có hành hoa.

    Hành còn gọi thông-hoa (? ?), thông-bạch..., tên khoa-học là Allium fistulosum, thuộc họ Hành tỏi (Liliaceae). Thông là rỗng, dọc lá hành thì rỗng, bạch là trắng, củ (dò) hành có màu trắng, vì vậy nên đặt tên ấy. Hành là vị thuốc rất công-dụng từ thời cổ xưa, tính ôn, vị cay, vào 2 kinh (phế, vị), chữa sốt rét, cảm, nhức đầu, phù thủng, khó tiêu... Tinh-dầu hành có tính sát khuẩn mạnh, chữa mụn nhọt, mưng mũ, ngạt mũi... Hiện nay, nhiều nước dùng hành tây, còn gọi là dương-thông (Allium cepa), tuy có nguồn gốc tại châu Á nhưng vì củ to (!) nên gọi là... tây.


    Em yêu dấu, khi ánh chiêu-dương chiếu rực rỡ trên những chùm hoa tuyết đang bay phất phới ở ngoài song cửa, thì anh xin được thì thầm vào tai em rằng Đông sẽ qua và Xuân lại về, cái lạnh ấy thế nào rồi cũng phải nhường chỗ cho muôn vàn ấp áp, đó là lẽ vô-thường của trời đất. Hôm nay, nhìn những trắng xóa lạnh lùng mênh mang ngoài trời kia, thì em yêu, hãy ngồi xuống bên anh, chỉ xin chút mộng mơ về quê cũ, có mặt trời ngậm non đoài, có ánh kim-quang ngời sáng, ta cùng nhau thưởng thức mùi hương của phở như vừa theo con gió lạ nào vừa đưa tới, đó là mùi vị quê-hương trong ngạt ngào, say đắm, để bừng lên đôi má em nét hồng mây sớm, để đôi môi kia run lên như nhịp đàn, và để anh bàng-hoàng thốt lên :

    ... cuồng loạn âm giai má hải đường
    gọi nhau say chết giữa mùi hương
    khi ăn niệm bóng sang ngồi cạnh
    đưa tình thương tới gặp tình thương...

  7. #6
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    87
    Tăng Uy Tín
    4
    Có 5 điểm uy tín trong 4 bài
    A LÔ! SAIGON!
    Phóng sự của Phan Nghị.

    PHỞ SÀI GÒN XƯA VÀ NAY

    Cũng như thịt chó, phở là một đặc sản của miền Bắc. Người ta cho rằng nó chỉ mới xuất hiện ở Saigon vào những năm 1951-1952 cùng một thời gian với hai nhà hát ả đào, một ở xóm Monceau và một ở xóm Đại Đồng. Cả hai thứ ấy đều rất xa lạ với người Saigon thuở đó. Kiếm được một quan viên biết cầm trống chầu không phải chuyện dễ. Cho nên họ chỉ cầm cự được một hai năm rồi dẹp tiệm,mặc dù họ đã biến nó thành một hình thức như ''kem sờ'' ở Bờ Hồ (Hà nội) vào những năm 30 hoặc như ''bia ôm'' của Saigon hôm nay. Và phở cũng chịu chung một số phận với nó. Người ta chỉ thích hủ tíu, hoành thánh, bánh xếp nước...Chỉ có độc một tiệm phở được gọi là ''Phở Tuyệc'', nằm trên đường Turc (nay thuộc khu vực Đồng Khởi) là kiên trì bám trụ.

    Phải đợi tới sau năm 1954, phở mới thực sự thực hiện một bước nhảy vọt từ Bắc vào Nam. Phở khởi đầu sự bành trướng của nó vào giữa thập niên 50 tới giữa thập niên 60. Có cả một dãy phố phở nằm trên hai con đường Pasteur và Hiền Vương.

    THƠ PHỞ...

    Những nhà hàng phở ngon của Saigon thuở ấy nhiều vô số. Nhưng được người ta chiếu cố nhất chỉ có bốn hoặc năm tiệm, trong đó có phở Trần Minh ở hẻm Casino. Trong cái ngõ cụt ấy, ê hề các hàng quà : phở, bún ốc, bún ốc sườn...Từ đầu ngõ, người ta đã chạm trán với khách ẩm thực, kẻ ra người vô tấp nập. Phở Minh ngon thiệt là ngon. Nó không giống như kẹo kéo Ềăn một lại muốn ăn hai, ăn ba ăn bốn lại nài ăn năm.Ể Người ta chỉ có thể ăn một bát để cho nó thòm thèm rồi mai lại ăn nữa ! Có một người nghiện phở của ông ta, và nghiện luôn cả truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Đó là ông X, chủ một tiệm giày ở đường Lê Thánh Tôn. Ông vừa ăn phở vừa theo dõi cuộc tình của Triệu Minh - Vô Kỵ, hoặc của Doanh Doanh - Lệnh Hồ Xung trên mặt báo. Và tình bằng hữu giữa ông chủ tiệm giày với ông chủ tiệm phở đã thắm thiết hơn lên nhờ một bài thơ phở của ông chủ tiệm giày. Gọi là thơ phở vì đọc lên nghe thấy...toàn mùi phở. Tuy nhiên nó được làm theo thể Đường thi, và chữ nghĩa đối nhau chan chát. Rất tiếc, người viết chỉ còn nhớ được có bốn câu :

    Nổi tiếng gần xa khắp thị thành
    Trần Minh phở Bắc đã lừng danh
    Chủ đề : tái, chín, nạm, gầu, sụn
    Gia vị : hành, tiêu, ớt, mắm, chanh...

    Sau đó, ''mông xừ'' Trần Minh đã nhờ một người nhái những nét chữ rồng bay phượng múa của Vũ Hoàng Chương để viết bài thơ ấy và treo ở trong tiệm.

    ...VÀ CÂU ĐỐI PHỞ

    Saigon thuở ấy chỉ có một tiệm duy nhất ở đường Võ Tánh, gần Ngã Sáu, có món tái sách tương gừng và phở tái sách : tiệm Y. Thịt tái mềm, sách ròn nhai gau gáu, chấm với tương Cự Đà thì tuyệt cú mèo. Người ta bèn đổ xô tới để thưởng thức một món ăn lạ miệng. Và tiệm Y phất lên như diều. Từ ngôi nhà lụp xụp, ông đã sửa sang lại cho khang trang và mua thêm một nhà khác để ở cho thoải mái. Phú quí sinh ...máu văn nghệ, ông bắt đầu giao du thân mật với cánh nhà văn, nhà báo.

    Sau cuộc đảo chính của Dương Văn Minh, trong làng báo có hiện tượng Ềtrăm hoa đua nởỂ, hễ có tiền là có quyền làm chủ một tờ báo. Thế là ông chủ tiệm phở Y bèn ra báo. Từ tái, chín, nạm, gầu, sụn, nhảy sang địa hạt chữ nghĩa, ông hoàn toàn bỡ ngỡ. Cho nên báo của ông chỉ có thể đến với độc giả bằng con đường ve chai. Dĩ nhiên nó phải chết. Và ít lâu sau ông cũng chết theo nó. Người vợ góa trẻ đẹp kế tục ''sự nghiệp'' của ông chồng quá cố. Tiệm Y phát đạt trở lại. Những người bạn văn nghệ của ông Y vẫn lui tới ăn phở như xưa, nhưng mục đích chính của họ là ...ngấp nghé ngôi vị chủ tiệm. Sau mấy năm trời theo đuổi mà chẳng đi tới đâu, một người trong bọn họ, tức cảnh sinh tình, bèn mượn danh nghĩa bà quả phụ để ra một vế câu đối như có ý thách thứcthiên hạ rằng : ''Nếu ai đối được thì em xin nguyện lấy làm chồng.''

    '' Nạc, mỡ nữa làm chi, em nghĩ chín rồi không tái giá ''

    Câu đối sặc sụa mùi phở, nhưng hắc búa nhất là cụm từ ''tái giá'', nó vừa có nghĩa là ''đi bước nữa'' lại vừa có nghĩa là ''phở tái giá''. Cũng như ''da trắng vỗ bì bạch'' của bà Điểm đố Trạng Qunh vậy.

    Hơn ba mươi năm trôi qua, câu đối ấy hiện nay vẫn chỉ có một vế.


    PHỞ GÀ TRỐNG THIẾN

    Ngay cả Nà Nội - quê hương của phở - từ trước đến nay cũng chưa bao giờ có phở gà trống thiến, cho dù ở phố Huyền Trân Công Chúa, vào đầu những năm 50, đã có một hàng phở gà ngon nổi tiếng khắp Hà thành, đến nổi cụ Nguyễn Tuân khi theo đoàn quân về tiếp quản Thủ đô, ăn xong đã phải khen rằng ''tuyệt phở !''. Người bán phở tên là Chí. Ông ta mới hồi cư, không có đủ tiền để mướn mặt bằng, phải làm phở gánh. Con đường mang tên vị công chúa nhà Trần bé bằng cái lỗ mũi, với cái vỉa hè rộng hơn một mét, khách ăn kẻ đứng, người ngồi, húp xì xụp.

    Phở gà trống thiến - xuất hiện ở Saigon vào những năm 60, ở phía chợ Vườn Chuối - tuy chưa được liệt vào loại tuyệt phở, nhưng cũng được khách ẩm thực đặc biệt chiếu cố. Phở ngon là một lẽ : thịt gà trống thiến thơm và mềm như gà mái tơ, nước phở trong hợp với khẩu vị của những người kén ăn, nhưng cũng còn một lẽ khác : người ta vừa ăn, vừa ngắm cái vẻ thướt tha yêu kiều của con gái ông chủ tiệm, thỉnh thoảng đi ra đi vô, mỉm cười với người này, gật đầu chào người kia, giơ tay bông rua người nọ, tự nhiên như một cô đầm non. Đó là nữ ca sĩ Y.V, một giọng ca lả lướt của các phòng trà. Ban ngày, nàng giao thiệp với phao câu, đầu cánh, thịt đùi ; ban đêm, chìm đắm trong ánh đèn màu. Thế rồi, không kèn không trống, nàng tuyệt tích giang hồ. Người ta bảo rằng nàng đi Tây. Đi Tây thật chứ không phải Tây Ninh. Tiệm phở vắng khách dần và ít lâu sau thì phải dẹp.

    PHỞ KHÔNG RAU KHÔNG GIÁ

    Tiệm này nằm trên đường Công Lý- cách ngã tư Công Lý-Yên Đỗ (nay là ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa-Lý Chính Thắng) khoảng 100m - trong một cái hẻm rộng. Người ta gọi là phở Bà Dậu. Nó có những đặc điểm không giống bất cứ một tiệm phở nào : không rau, không giá và rất sạch, và nhất là không có cái mùi phở kinh niên. Thịt thái mỏng và bánh phở to bản thích hợp với cái gu của người Hà Nội. Vì ở sâu trong hẻm, nên thoạt đầu khách tới ăn uống rất lơ thơ tơ liễu buông mành, chỉ có dăm bảy mống. Sau đó, nhờ sự cổ động của người Hà Nội, người ta mới bắt đầu chiếu cố tới hương vị không rau không giá đó.

    Trải qua hơn 30 năm, Phở Bà Dậu hiện nay vẫn tồn tại và có phần phát đạt hơn xưa. Có thêm một món mới : tái bắp, thịt mềm và nhai sần sật như sụn. Giá cả cũng tăng, từ 10đ/ bát trong những năm 60 đến 10.000đ/ bát, năm 1996. Nhưng khách ăn vẫn nườm nượp.

    TỪ PHỐ PHỞ ĐẾN...BẮC HUỲNH

    Hà Nội, quê hương của phở, và thời bao cấp đã sản sinh biết bao thứ phở : phở vịt, phở ngan, phở lợn (thậm chí có cả phở chó), vậy mà chưa có một phố nào chuyên bán phở, trong khi ấy Saigon lại có cả một dãy phố phở. Đó là khu Hiền Vương (Võ Thị Sáu - Pasteur). Hiền Vương chuyên bán phở gà, còn Pasteur, phở bò. Nhưng dù gà hay bò, các tiệm phở ở khu này chưa có một tiệm nào - nếu nói về phở bò - có thể so với phở Tàu Bay ở Lý Thái Tổ, còn nếu nói về phở gà, thì thua xa phở Vọng Các(đường Võ Văn Tần) và phở Bưu Điện hôm nay.

    Những tiệm phở bò nổi tiếng thời ấy còn có phở Tàu Thủy ở Nguyễn Thiện Thuật, phở Quyền và phở Bắc Huỳnh ở miệt Phú Nhuận. Sau khi ông Tàu Thủy qua đời, người con trai không có đủ khả năng kế nghiệp ông bố, bèn dẹp tiệm để chuyển sang nghề khác. Còn phở Bắc Huỳnh nguyên là phở Ga Đà Lạt một thời nổi tiếng; Sau 75 ông mò về Saigon, mở tiệm phở Bắc Huỳnh trên đường Võ Tánh góc Trương tấn Bửu đối xéo góc với nhà thờ Nam. Chỉ mấy tháng sau, Bắc Huỳnh lại nổI tiếng như cồn. Hàng ngày, từ 6 giờ sáng khách mộ điệu phở đã nườm nượp nối đuối kéo vào. Và chỉ tới 10 giờ là bánh, thịt, nước phở đã láng cóong. Phải công nhận phở Bắc Huỳnh hết chỗ chê. Nuớc trong vắt thơm lừng; Miếng thịt chín mùi thơm như pa-tê, thái tay vừa đủ dầy để cắn ngập răng. Miếng gầu sữa trắng toát mịn như miếng thạch, vừa thơm vừa bùi lại ròn tan; Không một chút hoi. Dặc biệt tiệm BH không bán phở toàn tái. Thế mới là chính thống. Phở bò mà lại ăn phở tái thì đúng là nhà quéo.

    Đang phát đạt như thế, chẳng biết sao khoảng năm 82 bỗng dưng ông dẹp tiệm. Dân ghiền phở cứ tiếc hùi hụi. Trong số này có ông cao thủ bóng lông Trần K., khi đó đang chủ trì sân quần vợt đuờng Lê Duẩn. Ông này ghiền phở BH không thua gì mấy anh ghiền thuốc phiện. Sáng sáng, sau khi dợt cho đệ tử mà không được bồi dưỡng hai tô phở BH là ông ngáp lên ngáp xuống. Ông bèn gạ một người bạn ông để người bạn này yêu cầu cô con gái ông BH mượn nồi niêu soong chảo bát đũa của ông già ra sân quần vợt mở một tiệm phở xe. Dân ghiền phở lại kéo tới ăn đông như trẩy hội. Hồi đó nữ ca sĩ Thái Thanh và nữ ca sĩ Tâm Vấn ở tít trong chợ lớn, sáng nào cũng ngồi xích lô ra sân quần vợt _ không phải để đánh banh lông _ mà là để đớp phở.


    Cao thủ Trần K. có ông anh cũng tên Trần K. và cũng là cao thủ bóng lông, còn mê phở hơn cả ông em. Sáng nào ông K. anh cũng gò lưng đạp chiếc xe đạp ọp ẹp chở người tình 200 pao từ Chợ Lớn ra sân quần với mục đich cao quý duy nhất là đớp phở của con gái ông BH. Có nhiều lần, có lẽ tại tối trước ông K . anh chơi bóng lông hơi nhiều và hơi khuya, sáng ra chân chùn gối lỏng, ông đạp xe hơi chậm, tới hơi trễ, đã thấy cái thùng nước phở chổng mông lên trời. Phở chính thống là thế: bao nhiêu thịt là bấy nhiêu nước. Hết nước là hết thịt, hết thịt là hết nước. Và hết là hết, chứ không có cái trò đổ vài lon nước lèo hộp, hay ném mấy cục bouillon vào nước, thêm tí mắm tí bột ngọt, đun sôi lên bán với thịt tái.


  8. #7
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    87
    Tăng Uy Tín
    4
    Có 5 điểm uy tín trong 4 bài
    Sau mấy lần đạp xe phờ râu tôm tới nơi lại hụt ăn, ông K. anh đành thương lượng với cô chủ phở như thế này:

    _ Mỗi sáng cô cứ vui lòng để riêng ra hai tô, cất đi cho tôi. Tôi tới kịp để ăn hay không tới ăn được cũng kệ cha tôi. Tôi vưỡn cứ trả tiền như thường.

    Ấy thế mà, chỉ được hơn năm, chả biết lý do gì, tiệm phở xe này cũng bỗng mất tích. It lâu sau thấy tiệm Bắc Huỳnh lại tái xuất giang hồ. Dược ít năm rồi lại dẹp không kèn không trống . Ngày nay nghe đâu ông Bắc Huỳnh và cô con gái đẹp như mơ đã mở hai tiệm phở bên Calgary, Canada. Chả biết còn giữ tên Bắc Huỳnh nữa không.

    ...PHỞ NGẦU PÍN

    Dạo ấy, cả Saigon chỉ có độc một tiệm của chú Woòng ở đường Lý Thái Tổ bán phở ngầu pín. Chú là người Quảng Đông, trước khi di chuyển vào Nam đã mở tiệm phở ở phố Huế, Hà Nội. Vào đầu thập niên 50, phở ngầu pín đối với dân thủ đô, thật hoàn toàn xa lạ. Có mà nhử thính các tiểu thư Hà Nội cũng không dám tới ăn.

    Phở ngầu pín vào tới Saigon cũng chả khấm khá gì hơn. Vẫn cái tiệm xập xệ tối thui, như ở phố Huế. Khách tới ăn toàn những ông râu ria xồm xoàm hoặc lún phún râu dê hoặc nhẵn nhụi bảnh bao chẳng có một sợi râu nào. Nhưng tuyệt nhiên không hề có bóng dáng đàn bà.

    PHỞ SAU 75 VÀ CƠN SỐT PHỞ BẮC HẢI

    Phở leo lên tới tột đỉnh vinh quang bắt đầu từ cuối thập niên 80. Phở tràn ngập thành phố, ngoại trừ khu vực Chợ Lớn, bởi nó không thể địch lại được với hủ tíu, hoành thánh, bánh bao, xíu mại. Nhưng đặc biệt nhất là cơn sốt phở Bắc Hải. Ở thành phố có chí ít vài ba chục tiệm mang cái tên ấy. Tại sao người ta lại không chọn một bảng hiệu khác ? Cũng có nguyên nhân đấy.

    Số là vào thời bao cấp, ở phố Thuốc Bắc, Hà Nội có một tiệm phở chui mà ông chủ tên là Bắc Hải. Đó là bí danh, biệt hiệu hay tên thật của ông ? Chả có ai rỗi hơi tìm hiểu. Chỉ biết cứ thế mà gọi. Tiệm của ông dĩ nhiên là đông khách, nhưng toàn khách quen. Những cái mặt lạ hoắc đừng có hòng bước vào. Trong khi phở quốc doanh chạy qua hàng thịt, thì phở Bắc Hải cả bánh lẫn thịt đều có chất lượng. Ngoài ra lại còn cái thú uống rượu quốc lủi nhắm với món bốc mả (xíu quách). Thịt do dân''bờ lờ'' (buôn lậu) từ Phú Xuyên, Thường Tín hoặc ngả Gia Lâm đi theo xe khách thành, đưa vào bán cho các mối. Còn quốc lủi do ngoại thành cung cấp.

    Ông Bắc Hải đựng quốc lủi trong cái bong bóng trâu, giấu ở trước bụng, cái áo phủ bên ngoài. Khách nào muốn uống, giơ cái ly xây chừng ra, ông cởi khuy áo, tháo cái nút vòi bong bóng rồi xịt một phát vào ly. Rượu vừa đúng tới mép ly, không tràn ra một giọt nào. Ông bảo đó là cả một nghệ thuật, phải tập mất một tháng mới thực hiện thành công thao tác ấy. Nói cũng đáng tội, phở của ông cũng chả ngon lành gì. Chẳng qua là vì ''trong xứ mù thằng chột làm vua''. Vả lại, nó có đầy đủ chất béo, chất cay. Với một người ''thích đủ thứ'', như vậy là đúng tiêu chuẩn. Từ đó, anh hùng nhất khoảnh, phở Bắc Hải danh trấn giang hồ.

    Sau 75, một số đệ tử của ông Bắc Hải vào Nam. Họ kiếm một đầu hẻm, dựng một quán phở lộ thiên. Một trong những đệ tử nổi bật nhất của ''mông xừ'' Bắc Hải là Ch.Râu. Gọi như thế là vì trên mặt anh có cả một rừng râu. Trẻ con trong khu phố, mỗi khi thấy anh xuất hiện lại chạy theo trêu chọc : ''Ơ cái râu lồm xồm, ơ cái râu loàm xoàm, cái râu mọc quanh cái mồm.''

    Lại vừa may mắn lại vừa có sẵn ít vốn, Ch.Râu kiếm được một mặt bằng ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Phở Bắc Hải của anh ra đời, trội hơn các tiệm Bắc Hải khác với món áp chảo nước, áp chảo khô, và đặc biệt là rượu rắn-bìm bịp, tráng dương bổ thận.

    Hiện nay, phở Bắc Hải không những bành trướng trong thành phố mà còn xuất hiện tại các vùng ngoại ô, nhất là trong khu vực Tân Sơn Nhất.


  9. #8
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    87
    Tăng Uy Tín
    4
    Có 5 điểm uy tín trong 4 bài
    PHỞ ĐUÔI BÒ VÀ NGẦU PÍN

    Khoảng giữa thập niên 80, tại Bến Sỏi, mé trái cầu Điện Biên Phủ, có một tiệm phở đuôi bò và ngầu pín do một người đàn bà đứng bán. Quán hàng thiết lập trên một vùng đất lổn nhổn sỏi đá. Khách ăn, kẻ đứng người ngồi. Đôi khi cái ghế lùn tịt được dùng thay cho bàn. Và lần đầu tiên trong lịch sử của "pín", ngầu pín được các bà các cô chiếu cố. Họ tỉnh queo cắn từng miếng một và nhai sần sật. Đuôi bò của Bến Sỏi cũng tuyệt trần. Mỗi miếng bằng cái nắm tay của trẻ con. Thịt được ninh nhừ nên khi ăn cũng không đến nỗi vất vả.

    Phở Bến Sỏi chỉ bán đến 9g30 sáng là hết. Nhưng thông thường, người ta đến sớm hơn. Để tránh cái nắng như đổ lửa xuống đầu. Trông các bà vừa ăn vừa thấm mồ hôi, phấn son nhòe nhẹt, thấy mà thương !

    Vài năm sau khấm khá, bà chủ tiệm tậu được một miếng đất rộng lớn ở phía xa lộ rồi chuyển cửa hàng ra đó. Bây giờ gọi là quán phở N., vừa bán phở vừa bán lẩu ngầu pín đuôi bò. Một cái lẩu 20.000đ hai người ăn căng bụng.


    PHỞ...THẦY CÔ

    Bởi lương nhà giáo không đủ sống nên 5 cô và một thầy đã hùn nhau mở một tiệm phở ở vỉa hè đường X., phía sau cổng trường M.C.

    Phở thầy cô ra đời khoảng gần hai năm nay. Có một dạo nhà nước dẹp lòng lề đường, có lúc họ phải di chuyển vào mé sân sau trường. Tiệm này chuyên bán phở gà và chỉ bán vào buổi sáng. Dĩ nhiên phở của họ không thể nào ngon bằng các tiệm nhà nghề như phở gà Bưu Điện hoặc Vọng Các hay các tiệm ở đường Võ Thị Sáu, nhưng nó lại có một hương vị đặc biệt - hương vị gia đình. Khách ăn có cảm tưởng như người nhà mình nấu cho mình ăn vậy. Phở ở đây rất có ''chất lượng'' và rẻ - rất rẻ là khác : 4.000đ/ tô đầy tú ụ cả thịt lẫn bánh.

    Giữa họ đã có sự phân công : mỗi người nấu phở rồi coi phở một ngày. Không có ai trong số họ có sẵn tay nghề. Thoạt đầu thì lúng túng như thợ vụng mất kim, ít lâu mới thành thạo. Nhưng dù sao đối với họ nghề phở cũng là một cái nghề bất đắc dĩ. Đứng trên bục giảng vẫn tốt hơn.

    Ở thành phố, ngoài nhóm thầy cô kể trên, còn có một cô giáo nữa cũng đang đứng bán phở, nhưng lại giã từ hẳn cái nghề kỹ sư tâm hồn. Cô nguyên là giảng nghiệm viên của Đại học khoa học, nhà lại sẵn có mặt bằng nằm trên một trục lộ đông đảo người qua lại, bèn quyết định từ bỏ ống nghiệm và các công thức hóa học để ''giao thiệp'' với phở. Vốn là một nội trợ giỏi nên từ nấu thức ăn đến làm phở cũng không đến nỗi khó khăn. Cửa tiệm nằm ở phía chân cầu Bông, khách ăn sẽ dễ dàng nhận ra khi thấy trước cửa đậu một dãy xe gắn máy.

    Phở Cầu Bông ngoài các món thường lệ như tái, chín, nạm, còn có món đuôi bò. Phở rất ngon nhưng giá một tô có 5.000đ, chỉ bằng một nửa tiền nếu so với phở H. ở đường Pasteur, tục gọi là phở Việt kiều, với giá chém treo ngành 12.000đ/ tô. Sở dĩ gọi thế là vì khách ăn đa số là Việt kiều. Họ quen ăn phở với giá 8 đôla/ tô, chưa kể tiền ''bo'' 10%, nên với họ, đó là một giá rẻ mạt.

    Phở Cầu Bông cũng không làm theo kiểu đại trà với thịt thái sẵn chất đầy một cái khay. Khách ăn tới đâu làm tới đó. Thịt thái mỏng bốc mùi thơm phức. Mỗi miếng thịt mang hình kỷ hà, màu nâu gụ của nó dính với màu mỡ gàu đặt trên nền trắng của bánh trông giống như một bức tranh tĩnh vật.

    Cô giáo của trường Khoa học đã đưa cả khoa học lẫn nghệ thuật vào phở.


  10. #9
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    87
    Tăng Uy Tín
    4
    Có 5 điểm uy tín trong 4 bài
    PHỞ T.D Ở ĐIÊN BIÊN PHỦ

    Phở có bảng hiệu mang tên số nhà, nhưng người ta cứ quen miệng gọi là phở T.D., tên ông chủ, mặc dù anh không đứng bán. Căn nhà đó, xưa kia, anh mở tiệm cơm Tây với hai món đặc sản : chateaubriand và chân giò nấu đậu trắng. Các bằng hữu của anh đa số là những người làm văn nghệ. Anh cũng được liệt vào số đó, bởi giọng ca tuyệt diệu của anh. Nhưng mỗi năm anh chỉ hát có một lần và chỉ hát có một bài vào đêm Giáng sinh : ''Đêm thánh vô cùng'' (Silent Night). Một điệu nhạc tắt đèn. Trong lúc tiếng ca thánh thiện của anh vang lên, người ta ôm nhau đi một đường slow.

    Sau khi thưởng thức phở Quyền, phở Tàu Bay, phở bà Dậu, nếu muốn đổi hương vị, người ta có thể đến T.D để nếm món ''vú sữa'', tức là khoảng thịt bụng có những núm vú, ăn béo ngậy, thơm và ần sật, nhưng không giống như sụn hoặc nậm của thịt chó. Nhà hàng có mặt bằng rộng, quạt máy quay vù vù, khách ăn không phải chịu cái cảnh mồ hôi mẹ mồ hôi con cùng chảy.

    PHỞ CÔNG TỬ SAIGON

    Đó là tiệm phở gà H.B. ở đường Võ Thị Sáu. Ông chủ tiệm tên là Q., một người thuộc giới giang hồ mà cả hai đạo hắc bạch đều biết... tiếng từ khi Q. ở địa vị một ông chủ. Nghề phở đến với anh một cách tình cờ. Trong một cuộc đọ tài cao thấp với một tay anh chị, anh bị hắn thưa về tội đả thương, và sau đó bị đưa đi cải tạo. Thời gian chém tre đẵn gỗ trên ngàn, anh thường hay giúp đỡ một anh bạn đồng cảnh ngộ. Thấy bạn bị bắt nạt là anh can thiệp ngay. Không phải bằng vũ lực, mà chỉ với một chiêu số thôi : bấm vào huyệt nội quan ở cổ tay và huyệt khúc trì ở khuỷu tay, là địch thủ phải thổi bài kèn ''ông rơ lui'' ngay. Q. lại còn thường giúp anh ta trong các công tác lao động. Để đáp lại ân tình ấy, người bạn kia đã truyền cho anh nghề nấu phở. Anh ta dạy Q. từ cách lựa chọn gà - phải là gà được nuôi ở nông thôn - đến cách pha chế gia vị cho thùng nước lèo, và cách nấu nướng làm sao cho gà khỏi bị vỡ da.

    Sau thời gian cải tạo, Q. về đường Võ Thị Sáu mở tiệm phở H.B.-tiệm phở ngon nhất trong khu phố ấy. Chỉ trong vòng ba năm, anh đã phất lên như diều. Và bây giờ, với 8 năm trong nghề phở, anh chỉ giữ vai trò chuyên viên, và để cho một số đệ tử đứng bán.

    Còn một chàng nữa cũng phất lên như Q., nhờ phở. Đó là anh D., chủ một tiệm phở ở trong một con hẻm đường Nguyễn Thị Minh Khai, cách nhà thương Từ Dũ khoảng 500m. Từ Hà Nội vô thành phố Hồ Chí Minh, anh chỉ có đủ tiền để làm một gánh phở ở đầu ngõ. Mới đầu, anh chả biết một tí gì về cái nghề này. Toàn đi học mót. Hỏi người này, học người kia, rồi tới ăn ở các tiệm phở danh tiếng để thử nghiệm. Phải mất gần một năm anh mới thành thạo.

    Phở D. hôm nay nổi tiếng ngang với phở Quyền ở Phú Nhuận. Tiệm của anh có một món đặc biệt : tái bắp. Muốn ăn món này phải đi sớm, bởi 8 giờ sáng là hết. Có một điều ly k là phở D. ăn vào buổi chiều bao giờ cũng ngon hơn buổi sáng. Cả chủ lẫn khách đều công nhận chuyện đó. Hỏi nguyên nhân tại sao ? Anh lắc đầu vì không giải thích được. ''Sáng và chiều cùng một thùng nước lèo. Nửa thùng buổi sáng còn lại, buổi chiều chỉ việc đun sôi, không pha thêm một chút gia vị nào, thế mà nó lại ngon hơn buổi sáng'', anh mỉm cười nói.

    Bây giờ thì phở có bề thế lắm rồi. Anh mới tậu thêm một ngôi nhà ở đầu hẻm.

    Phở là một đặc sản của Việt Nam. Đó là điều ''quốc tế phải công nhận''. Nhưng ông Tây lại bảo nó là “soupe chinoise”, còn ông Tàu thì lại bảo nó là “ngầu phấn” chỉ là tiếng Quảng Đông, phiên âm ra tiếng Hán Việt là “ngưu” (bò hoặc trâu), ''phấn'' (bột gạo). Một điều nữa, hỏi ông tổ của nghề phở là ai ? Các ông chủ tiệm phở đều lắc, mặc dù nhờ phở, họ đã có của ăn của để.

    Vậy ông tổ của nghề phở là mông sừ nào hở ông...An Chi ?

    Cơm Muối Huế, Ai từng ăn chưa?

    Bạn đến nhà hàng hạng sang tại Huế...bạn có thễ gọi nem Công Chả Phượng , Tôm Hùm đúc lò , Thỏ nấu rượu chát...Heo Rừng xào lăn....vv...vv....thì nhà hàng không từ chối chuyện nầy . Nhưng nếu bạn gọi món "Cơm Muối Huế"...thì bảo đảm nhà hàng xanh mặt là cái chắc . Vâng ! Chú Thoòn không đùa đâu...Không phãi bạn gọi cơm muối Huế là nhà hàng...bưng nguyên Tô cơm và chai muối trắng cho bạn đâu...vậy ai từng ăn cơm Muối Huế?

    Chú Thoòn có thể Post tiêu đề này lên cả tháng...sẽ không ai trả lời...như vậy cũng...làm "neo" quý bạn..., thôi vậy chú Thòon nói luôn cho...vui nghen...Chú Thòon chưa ăn loại cơm nầy, nhưng Chị Tâm người quen có ăn cơm nầy rồi...vậy chú Thoòn nhường lời của chị Tâm cho bạn nghe...

    Cơm Muối Huế .....

    Đó không phải là cách nói tế nhị, nhún nhường truyền thống của người Việt, mỗi khi gia chủ bày tiệc khoản đãi khách quý. Rõ ràng chỉ có cơm và muối, song cơm phải được nấu cầu kỳ từ gạo thơm, còn muối thì được chế biến bằng đủ cách: rang, kho, om, chiên, trộn... là bữa tiệc cơm muối do các nghệ nhân tài hoa ở Huế thực hiện.

    Ở Việt Nam, khi mời người khác dự tiệc, gia chủ thường nhún "Mời bác mai cùng nhà cháu dùng bữa cơm muối!" Hoặc xuýt xoa: "Mấy khi bác ghé thăm, cơm muối đạm bạc, mong bác xá chọ..". Kỳ thực thì những "bữa cơm muối" ấy là những bữa tiệc với nhiều món ngon được nấu nướng cẩn thận, chứ không ai lại dọn chỉ cơm và muối!

    Ấy thế mà tiệc cơm muối đãi khách hay Tết cơm muối lại có thật một trăm phần trăm, đúng theo nghĩa đen chứ không phải lối nói đưa đẩy. Bạn không tin ư? Xin mời bạn đến Huế! Ở Huế, cơm muối là thứ thực đơn siêu hạng, mà mỗi lần có khách sành ăn đặt, gia chủ hay các nhà hàng phải chạy toát mồ hôi hột. Bởi làm được một mâm cỗ Tết hay một mâm tiệc đãi khách bằng cơm muối phải là người nội trợ hay đầu bếp khách sạn tài hoa lắm.

    Thời trước, các "Mệ" (chỉ người trong hoàng phái) thường thết khách sang, khách quý bằng bữa tiệc cơm muối để thể hiện sự quý khách của mình và còn để khoe tàị.. nấu nướng và tài thưởng thức! Nên ở Huế có rất nhiều người biết chế biến cơm muốị Ngày nay, các nghệ nhân biết làm tiệc cơm muối đang thưa dần, nhiều khi tìm rất khó.

    Bữa tiệc cơm muối Huế đúng như tên gọi chỉ có cơm và muối! Với tất cả nét văn hóa mang triết lý ẩm thực Huế, ẩm thực Việt Nam sâu thẳm mà dân dã đến bất ngờ! Nhưng cơm và muối ở đây rất cầu kỳ, công kỹ trong chế biến và vô cùng đài các trong thưởng thức.

    Cơm là cơm gạo tẻ, loại gạo thơm như gạo Nàng thơm, Nàng Hương bây giờ. Gạo giã làm sao còn nguyên vỏ lụa, không sứt, vỡ (gạo lứt). Cơm nấu trong niêu đất nhỏ, bảo đảm hạt gạo chín nhưng không nứt nở, cơm rất khô mà không sống! Các đầu bếp cung vua, hay các gia đình quan lại triều Nguyễn xưa thường dùng thứ gạo tiến vua nổi tiếng là gạo de An Cựu (Tôm rằn lột vỏ bỏ đuôi - gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già) để làm tiệc cơm muối. Cơm nấu trong nồi đất do làng Phước Tích sản xuất.

    Một mâm cơm muối tùy theo thực khách mà đĩa cơm to hay nhỏ, nhưng nhất thiết phải là loại đĩa sang trọng, đĩa cổ càng quý. Còn thức ăn tất nhiên là... muối! Đó là các món ăn được chế biến từ nguyên liệu chính là muối biển được đơm trong các loại đĩa chén cổ kiểu cách, rất bé. Bát ăn cơm (người Huế gọi là chén) là loại bát cổ nhỏ (chén kiểu) rất sang trọng.

    Các món muối được chế biến bằng các phương pháp rang, kho, om, chiên, trộn,... không khác gì phương pháp chế biến các món động, thực vật khác. Tùy theo công thức pha và cách chế biến mà có các món muối khác nhau, món nào ra món đó, có mầu sắc, mùi vị riêng không hề trùng lẫn. Nhìn mâm cơm với các món muối khi mới dọn ra ta có cảm giác đó là một mâm hoa: Muối trắng, muối ớt đỏ, muối riềng vàng, muối khế, muối sả xanh, muối tiêu, muối mè (vừng) mầu huyền, muối bạc, muối ruốc, muối sườn mầu nâu bóng... thật thích mắt.

    Ăn tiệc cơm muối, khách và chủ bao giờ cũng bị đặc điểm món ăn, chén bát, mâm bàn... buộc phải giữ phong thái lịch sự, thư thái, nho nhã. Và miếng cơm nhỏ vào mồm nhai chậm, không mở to miệng khi nhai cơm. Ăn từ tốn, nhai chậm mới thưởng thức hết hương vị thơm ngon, sâu đằm của bữa cơm muốị Vị bùi, béo, mặn, ngọt, chua caỵ.. thấm dần vào hồn như đưa ta về cội nguồn văn hóa dân tộc và triết lý nhân sinh. Nó xa vời với cảnh nhậu hiện naỵ..

    Nhà văn Nguyễn Tuân có kể rằng, thuở còn là cậu học trò nhỏ, vào Huế ông đã được theo cha dự một bữa tiệc cơm muối ở Kim Long, do một ông quan mờị Hàng mấy chục năm sau, bữa cơm muối ấy vẫn ám ảnh ông. Ông vẫn nhớ và kể ra rất tỷ mỷ hàng chục món muối trong bữa tiệc ấỵ Con người sành sõi về nghệ thuật ẩm thực nhất làng văn đất Việt này, mãi cho đến cuối đời vẫn bái phục tài nghệ của các đầu bếp Huế, cũng như cách tiếp khách cao sang mà tài tử của con người xứ Huế! Đây không còn là bữa tiệc hay bữa cơm Tết thuần túy nữa mà là một cuộc chơi của những nghệ sĩ!

    Du khách thăm Huế hẳn sẽ vô cùng thú vị khi được thưởng thức bữa tiệc cơm muối Cố Đô chính hiệụ Người Huế đã "phục chế" được cơm Vua, chắc chắn sẽ làm sống lại những bữa tiệc cơm muối sang trọng mà đậm đà bản sắc dân tộc để phục vụ du khách.

    Bạn phì cười nhưng nếu bạn xuống Chinatown tại Los Angeles hay Chinatown nào cũng được...bạn gọi Gà Quay (khác Gà Xì dầu, gà hấp, Gà hấp muối...) thì người ta đưa cho bạn Gà quay da vàng rất thơm + chút muối rang...có nơi nhà hàng làm muối rang rất thơm vì trong đó họ rang muối + vài gia vị trong đó , nên khi bạn chấm gà quay thì chút muối nầy tăng sự thơm cho miếng gà quay nói trên...

    Còn 8 món Muối của cơm Muối...thì ngoài chén muối ớt , có chén muối rang mà gia vị được ngào với chút nước kho cá ngừ rồi rang lên...thành chén muối đó có màu nâu thơm dịu...Hình như chú Thoòn không lầm thì món muối thứ 9 dành trong Cung đình mà thôi...vì số 9 dành cho Hoàng Thượng mà...

    Ai dám làm cơm Muối mà công phu đến trên 4 tiếng đồng hồ tinh luyện...làm gì thì làm chứ tuyệt đối không được đễ muối có mùi khét và mùi tanh...

    Thành thữ tại hầu hết Restaurant Chinatown đầu bếp người Hoa họ ít dùng muối có iode..còn Âu Mỹ thì nói muối có iode sẽ không làm sưng tuyến họng vì thiếu iode....

  11. #10
    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    87
    Tăng Uy Tín
    4
    Có 5 điểm uy tín trong 4 bài
    MÓN "MỘC TỒN" CỦA TRIỀU TIÊN.

    Mộc tồn mộc là cây, tồn là còn, mộc tồn là cây còn, cây còn là con cầy... theo lối suy diễn "Đại Phong" của Trạng Quỳnh

    Mộc tồn là món cầy tơ,
    Mắm tôm, mẻ, xả, lá mơ, củ riềng,
    Húng thơm, húng quế giao duyên,
    Bánh đa, chanh, ớt, nhóm liền lò than,

    Chả chìa, thịt luộc bắt ham,
    Tiết canh, sườn nướng, thênh thang lòng, dồi,
    Xáo ninh, rựa mận đầy nồi.
    Thêm tái áp chảo, lại thồi chả chiên,

    Cạn chai rượu thuốc ngả nghiêng,
    Quốc hồn, quốc túy, lưu truyền nhân gian.

    Dương Toàn Thịnh

    Cũng như người Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Châu Á khác, người Triều Tiên rất khoái món "mộc tồn". Qua số liệu điều tra cho thấy, mỗi năm Triều Tiên giết tới 1 triệu con chó để thoả mãn món khoái khẩu này. Thịt chó đã trở thành "mỹ vị" trên bàn ăn của tuyệt đại đa số dân chúng.

    92% đàn ông và 68% phụ nữ Triều Tiên ở tuổi trưởng thành khi được phỏng vấn đã cho rằng thịt chó là một trong những món ăn ngon nhất đối với họ. Thế nhưng vì món mộc tồn này mà giải World Cup tổ chức vào tháng 6/2002 ở Triều Tiên/Nhật Bản phải gặp trắc trở. Một số tổ chức bảo vệ động vật quốc tế đã vận động và gây sức ép để buộc chính phủ Triều Tiên ra lệnh cấm ăn thịt chó. Lý do họ đưa ra là: Ăn thịt chó là hành vi ngược đãi chó - một loài vật nuôi, bạn của con người. Sự việc đã trở nên rắc rối khi FIFA cũng đứng về phía những người bảo vệ động vật để gây sức ép với chính phủ Triều Tiên. Đòi hỏi này của FIFA và những người bảo vệ động vật đã bị dân chúng Triều Tiên phản đối mạnh mẽ. Họ cho rằng: Ăn thịt chó là nét văn hoá ẩm thực của Triều Tiên cần phải được bảo vệ, không việc gì phải khuất phục trước áp lực của người ngoài.

    Tại sao người Triều Tiên thích thịt chó ?

    Theo các kết quả thống kê, thịt chó là thức ăn được sử dụng nhiều thứ tư ở Triều Tiên, sau thịt lợn, thịt bò và thịt gà. Người Triều Tiên đã nuôi chó để giết thịt từ nhiều thập kỷ nay, cũng như nuôi ngựa và lợn. Thịt chó trở nên quen thuộc với người Triều Tiên vì nó đem lại cho họ nguồn protein mà họ thiếu vì họ không thể giết ngựa một cách tràn lan do con vật này có tầm quan trọng đặc biệt đối với công việc đồng áng.

    Những người bảo vệ động vật cho rằng, ăn thịt chó là không thể chấp nhận được vì chó là một loại động vật gần gũi với con người. Nhưng lập luận này rất thiếu sức thuyết phục đối với đông đảo người dân Triều Tiên bởi họ cho rằng như vậy cũng không nên ăn thịt gà hoặc lợn bởi những con vậy này cũng được nuôi như gia súc.

    Ngay ở Triều Tiên, thói quen ăn thịt chó không phải lúc nào cũng được ủng hộ tuyệt đối. Vào những thời điểm nhất định, khi cần phải nâng cao thể diện quốc gia vì một lý do quan trọng mang tầm quốc tế, thói quen ăn thịt chó của người Triều Tiên cũng gặp phải những hạn chế nhất định. Trong thời gian diến ra thế vận hội 1988 ở Seoul, chính phủ Triều Tiên đã yêu cầu các chủ nhà hàng bán thịt chó tạm thời đóng cửa hoặc di chuyển sang các khu phố xa trung tâm. Với việc hàng trăm ngàn khách du lịch sẽ đến Triều Tiên để dự World Cup 2002, một lần nữa những tranh cãi xung quanh món mộc tồn lại trở nên hết sức sôi nổi, thậm chí có phần căng thẳng.

    Các món ăn chế biến từ thịt chó rất phổ biến ở Triều Tiên. Nhiều người cho rằng việc ăn thịt chó bắt đầu từ thời kỳ chiến tranh Triều Tiên, khi nạn đói lan tràn khắp nơi. Lúc đó, người dân giết chó ăn thịt chỉ để chống chọi với cái đói, giống như những chiến binh cổ xưa phải giết ngựa để ăn thịt. Dần dần, thịt chó trở thành món ăn quen thuộc và khi chiến tranh kết thúc, thói quen ăn thịt chó không những chẳng tàn lụi mà ngày càng trở nên phổ biến. Các nhà hàng ngày càng nghĩ ra nhiều món ăn khoái khẩu chế biến từ thịt chó. Từ một món ăn chống đói, thịt chó trở thành một thứ đặc sản !

    Tuy nhiên, nếu ghé vào bất cứ của hàng thịt chó nào ở Seoul và nói chuyện với ông chủ cửa hàng hoặc những thực khách đang say sưa thưởng thức một thực đơn toàn những món thịt chó, bạn sẽ nhận được những lời khẳng định như đinh đóng cột rằng thói quen ăn thịt chó bắt nguồn từ Trung Quốc và đã du nhập vào Triều Tiên từ hàng trăm năm nay. Sự phổ biến của các món ăn chế biến từ thịt chó một phần còn do Triều Tiên là một dân tộc đặc biệt quan tâm đến sức khoẻ mà thịt chó lại được coi là một món ăn bổ dưỡng. Niềm tin này cũng bắt nguồn từ Trung Quốc. Ý thức về vị trí độc tôn của người đàn ông trong xã hội Triều Tiên cũng góp phần làm cho thịt chó trở thành món ăn đặc biệt trong ẩm thực của người Triều Tiên. Phần lớn những người thưởng thức thịt chó là đàn ông và tương truyền, món ăn này có tác dụng đặc biệt đối với việc tăng cường sinh lực cho người đàn ông trong chuyện chăn gối.

    Theo một trong những cuốn sách mà Hải Thượng Lãn Ông, ông tổ của y học Việt Nam để lại, thịt chó được coi là một vị thuốc quý: Có tác dụng tốt đổi với lục phủ ngũ tạng, thúc đẩy tuần hoàn máu, tăng cường khả năng sinh lý ở nam giới ... và nhìn chung là là bồi bổ rất tốt cho cơ thể. Theo quan niệm của người Triều Tiên, thịt chó có tác dụng giải nhiệt mùa hè và giúp cơ thể tăng sức đề kháng với các loại bệnh dịch.

    Tới Triều Tiên, bạn vào một nhà hàng, gọi một đĩa lớn thịt nghi ngút khói và ngồi bên cạnh một bếp lò. Phía dưới tấm kính, cả thịt lẫn rau xanh và rau diếp cùng sôi sùng sục. Các vị cay của gừng, chua của dấm và bùi của dầu mè ngấm vào từng thớ thịt. Món thịt hầm này được dùng theo cách "sambap" của người Triều Tiên, tức là dùng rau diếp gói miếng thịt và chêm thêm các gia vị cần thiết.

    Ở Triều Tiên, thịt chó thường được chế biến thành một món xúp có tên gọi là boshintang mà người dân nơi đây cho rằng rất bổ dưỡng cho sức khỏe. Món súp này hội tụ gần như tất cả các vị của các món súp truyền thống của Triều Tiên, như món doenjang hay súp kim chi. Khác biệt duy nhất là trong món súp này có thịt chó. Những người bảo vệ món này cho biết khi ăn, một số người cảm thấy như họ bị lừa bởi vị của món thịt này rất giống với thịt ngựa. Trong khi đó, tập tục ẩm thực của người Triều Tiên là phải cho người ăn biết họ đang ăn thịt gì. Hơn nữa, thịt chó lại rất thơm ngon và bổ dưỡng, và giúp bổ sung năng lượng cho một người đang phải chịu cái nóng khủng khiếp của mùa hè.

    Thịt chó, theo một số người ủng hộ, bao gồm các enzyme mà trong cơ thể con người cũng có. Hơn nữa, thịt chó rất giống với thịt người, khiến cho nó trở nên khó tiêu hoá. Theo họ, đây chính là điều khiến thịt chó có khả năng phục hồi năng lượng cho người ăn.

    Dù nguồn gốc của việc ăn thịt chó như thế nào, phần lớn người Triều Tiên hôm nay tin tưởng một cách nhiệt thành rằng đây là một món ăn bổ dưỡng vô cùng hiệu quả. Trong đơn thuốc điều trị, nhiều bác sĩ Triều Tiên đã chỉ định việc sử dụng thịt chó cho bữa ăn hàng ngày để phục hồi sức khỏe cho các bệnh nhân sau phẫu thuật hoặc tăng cường sinh lực cho các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo.

    Tất cả những yếu tố trên khiến cho người Triều Tiên ngày càng ưa chuộng thịt chó. Xét về mức độ tiêu thụ phổ biến, thịt chó từ vị trí thứ tư đã tiến lên vị trí thứ ba trong những năm gần đây trong xã hội Triều Tiên và hiện nay người Triều Tiên ăn nhiều thịt chó hơn là thịt bò.

    Người Triều Tiên cũng hiểu rất rõ rằng, nhiều nước trên thế giới không chấp nhận thói quen ăn thịt chó của họ. Tuy nhiên, trên khắp đất nước nhỏ bé này vẫn có tới 6000 cửa hàng bán thịt chó và cùng với một số đông đàn ông thường xuyên đến thăm các cửa hàng này, còn rất nhiều người coi thịt chó như một thức thực phẩm bổ dưỡng hoặc thậm chí như một thức thuốc bổ và sử dụng chúng theo đơn thuốc của bác sĩ.

    Mặc dầu, Triều Tiên đang tiếp tục đón nhận sự thâm nhập của các tư tưởng và thói quen phương Tây, nhưng truyền thống ẩm thực vẫn còn hết sức vững chãi nếu không nói là trường tồn. Thế hệ trẻ Triều Tiên đang thay đổi rất nhanh, họ có thể nói tiếng Anh như gió, nhai singum suốt ngày, mặc quần jean và nghe nhạc Mỹ nhưng rất nhiều người trong số họ vẫn xem việc ăn thịt chó là một phần trong cách sống của người Triều Tiên. Bởi thế bạn đừng ngạc nhiên nếu bước chân vào một quán ăn Triều Tiên, gặp những thanh niên vừa nghe walkman vừa ăn thịt chó.

    Chấp nhận hay không chấp nhận thói quen ăn thịt chó là quyền của bất cứ du khách nào khi đến Triều Tiên. Họ có thể thưởng thức món ăn khoái khẩu này cùng với những người dân Triều Tiên, hoặc có thể không chấp nhận và quay lưng bỏ đi. Nhưng điều đó sẽ không làm thay đổi đuợc thói quen của người Triều Tiên.

    Để tìm kiếm đồng minh trong cuộc đấu tranh bảo vệ món "quốc tuý" này, các phương tiện truyền thông của Triều Tiên đã cho phát bài trả lời phỏng vấn của ông Lý Tân - Đại Sứ Trung Quốc tại Seoul - về vấn đề này. Đại Sứ Lý nói: "Văn hoá ẩm thực là một bộ phận của nền văn hoá truyền thống của một quốc gia. Trong vấn đề này, bất cứ quốc gia nào cũng không được dùng tiêu chuẩn của mình để áp đặt cho nước khác. Hiện nay thế giới là một xã hội đang đề xướng đa nguyên hoá. Vì vậy đặc điểm ẩm thực của Triều Tiên cần được tôn trọng". Thịt chó cũng là món "mỹ thực" trong văn hoá ẩm thực Trung Hoa, phát biểu của Đại Sứ Lý Tân cũng là hành động đón trước để phòng ngừa một số kẻ giương chiêu bài bảo vệ động vật để quấy phá việc Trung Quốc tổ chức Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008. Có vẻ một cuộc đấu tranh mới về quyền được ăn thịt chó bên lề các sự kiện thể thao lớn đã bắt đầu mở màn

Trang 1 của 2 12 CuốiCuối

Ôi ai đang nhòm chi mình ri hè

Users Browsing this Thread

Có 1 người đang xem chủ đề. (0 thành viên và 1 khách)

Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •